Đánh giá nghiên cứu VBT 1

Có thể bạn đã nhận thấy rất nhiều nguồn tham khảo mà chúng tôi trích dẫn ở cuối mỗi bài đăng trên blog. Nghiên cứu được đánh giá bởi các chuyên gia rất quan trọng đối với chúng tôi vì nó bổ sung bằng chứng và tính xác thực cho thông tin mà chúng tôi cung cấp cho bạn. Chúng tôi muốn trở thành một nguồn thông tin đáng tin cậy về mọi thứ liên quan đến huấn luyện dựa trên tốc độ (velocity-based training - VBT), và để làm được điều đó, chúng tôi phải đảm bảo các phát hiện và tóm tắt của mình dựa trên nghiên cứu. Với suy nghĩ đó, tuần này chúng tôi muốn cung cấp một bài đánh giá nghiên cứu ngắn gọn về VBT. Một bài đánh giá nghiên cứu về huấn luyện dựa trên tốc độ. Bên dưới, bạn sẽ tìm thấy ba nguồn tham khảo khác nhau, được trích dẫn (rõ ràng) và chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn về mục đích, phương pháp và kết quả của từng nguồn. Chúng tôi sẽ định kỳ cung cấp cho bạn các bài đánh giá nghiên cứu để đảm bảo bạn cũng đang đọc các nghiên cứu! Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy cho chúng tôi biết trong phần bình luận.

NGHIÊN CỨU 1

Ảnh hưởng của phản hồi hiệu suất tức thời trong 6 tuần tập luyện sức mạnh dựa trên vận tốc đến các bài kiểm tra hiệu suất chuyên biệt trong thể thao.

Nghiên cứu VBT do các nhà nghiên cứu Randell, Cronin, Keogh, Gill và Pederson thực hiện đã điều tra tác động của vận tốc đỉnh như phản hồi hiệu suất tức thời đối với các bài kiểm tra hiệu suất thể thao cụ thể. Mười ba cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp được đào tạo bài bản đã được phân ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm: nhóm có phản hồi (n = 7) và nhóm không có phản hồi (n = 6). Các chỉ số kiểm tra hiệu suất thể thao cụ thể trước và sau tập luyện là nhảy cao, nhảy xa và chạy nước rút 10/20/30m tính thời gian. Trong chu kỳ huấn luyện 6 tuần, cả hai nhóm đều tập luyện 3 buổi mỗi tuần, bài tập nhảy ngồi xổm được thực hiện hai lần một tuần, mỗi lần 3 hiệp, 3 lần lặp lại với tạ đòn và trọng lượng tuyệt đối 40kg, và đây là bài tập được kiểm tra. Nhóm có phản hồi (Nhóm 1) được cung cấp phản hồi theo thời gian thực về vận tốc đỉnh của động tác nhảy ngồi xổm sau mỗi lần lặp lại. Nhóm không có phản hồi (Nhóm 2) không nhận được bất kỳ phản hồi nào. Kết quả cho thấy kết quả trước và sau kiểm tra có ý nghĩa thống kê đáng kể trong các bài kiểm tra hiệu suất nhảy xa (p = 0,01) và chạy nước rút 30m (p = 0,0008). Ý nghĩa thực tiễn được tìm thấy trong tất cả các bài kiểm tra hiệu suất, có nghĩa là việc đưa phản hồi hiệu suất trực tiếp có thể mang lại lợi ích và cải thiện các bài kiểm tra hiệu suất chuyên biệt cho từng môn thể thao trong suốt thời gian huấn luyện 6 tuần.

Randell, AD, Cronin, JB, Keogh, JWL, Gill, ND, & Pedersen, MC (2011). Tác động của phản hồi hiệu suất tức thời trong 6 tuần huấn luyện sức đề kháng dựa trên vận tốc đối với các bài kiểm tra hiệu suất cụ thể của môn thể thao. Tạp chí Nghiên cứu Sức mạnh và Điều kiện, 25(1), 87–93.

NGHIÊN CỨU 2

Giảm vận tốc như một chỉ báo về sự mệt mỏi thần kinh cơ trong quá trình tập luyện sức mạnh.

Sanchez-Medina và Gonzalez-Badillo đã nghiên cứu cả phản ứng cơ học (mất vận tốc và giảm chiều cao nhảy bật) và phản ứng chuyển hóa (lactate, amoniac) đối với các bài tập kháng lực bao gồm các hiệp và số lần lặp lại khác nhau. Trong suốt 21 buổi tập khác nhau, cách nhau 48-72 giờ, mười tám nam giới được huấn luyện sức mạnh được chia thành hai nhóm: nhóm đẩy tạ nằm (n = 10) và nhóm squat (n = 8) và thực hiện ba giao thức khác nhau. 1) Kiểm tra sức mạnh tối đa một lần lặp lại (1RM) với bộ chuyển đổi vị trí tuyến tính (LPT) để giúp xác định hồ sơ tải trọng-vận tốc. 2) Kiểm tra số lần lặp lại tối đa đến khi không thể thực hiện được nữa dưới các mức tải trọng khác nhau. 3) 15 lần lặp lại được chia thành các kế hoạch hiệp và số lần lặp lại khác nhau với thời gian nghỉ giữa các hiệp là năm phút. Nồng độ lactate và amoniac trong máu được đo cả trước và sau khi tập luyện. Nghiên cứu VBT cho thấy cả sự mất vận tốc trung bình sau ba hiệp và sự mất vận tốc trước và sau khi tập luyện đều có ý nghĩa thống kê đối với tất cả các nhóm và có mối tương quan cao với nhau (r = 0,91 – 0,97). Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự suy giảm vận tốc ở nhóm tập đẩy tạ nằm ngang lớn hơn đáng kể so với nhóm tập squat. Sự suy giảm vận tốc ở cả hai nhóm đều có mối tương quan cao với nồng độ lactate sau tập luyện (r = 0,93 – 0,97). Nồng độ amoniac cho thấy phản ứng dạng đường cong đối với sự suy giảm vận tốc. Dựa trên kết quả, các nhà nghiên cứu kết luận rằng mối tương quan cao giữa các chỉ số mệt mỏi cơ học (suy giảm vận tốc và giảm chiều cao nhảy bật) và chuyển hóa (lactate, amoniac) hỗ trợ tính hợp lệ của việc sử dụng sự suy giảm vận tốc để định lượng sự mệt mỏi thần kinh cơ trong quá trình tập luyện sức mạnh.

Sánchez-Medina, L., & González-Badillo, JJ (2011). Sự suy giảm vận tốc như một chỉ báo về sự mệt mỏi thần kinh cơ trong quá trình tập luyện sức mạnh. Y học và Khoa học trong Thể thao và Tập luyện.

NGHIÊN CỨU 3

So sánh phương pháp tính tải dựa trên vận tốc và phương pháp tính tải truyền thống dựa trên phần trăm đối với sự thích nghi về sức mạnh và công suất tối đa.

Nghiên cứu VBT do các nhà nghiên cứu Dorrell, Smith và Gee thực hiện đã tuyển chọn mười sáu người đàn ông được huấn luyện để xác định tác động của huấn luyện dựa trên vận tốc (VBT) lên sức mạnh tối đa và chiều cao nhảy. Các đối tượng đã hoàn thành bài kiểm tra nhảy bật ngược (CMJ) cùng với đánh giá sức mạnh tối đa một lần lặp (1RM) cho các bài tập squat lưng, đẩy tạ nằm, đẩy tạ qua đầu và nâng tạ. Sau đó, các đối tượng được chia vào nhóm huấn luyện dựa trên phần trăm (PBT) (n = 8) hoặc nhóm huấn luyện dựa trên vận tốc (VBT) (n = 8) và được huấn luyện trong 6 tuần. Tải trọng của nhóm PBT dựa trên dữ liệu 1RM của họ, trong khi tải trọng của nhóm VBT được xác định thông qua theo dõi vận tốc thời gian thực. Kết quả cho thấy sự gia tăng đáng kể (p < 0,05) về sức mạnh tối đa đối với squat lưng (VBT 9%, PBT 8%), đẩy tạ nằm (VBT 8%, PBT 4%), đẩy tạ qua đầu (VBT 6%, PBT 6%) và nâng tạ (VBT 6%). CMJ chỉ cho thấy sự gia tăng đáng kể ở nhóm VBT (5%). Nhìn chung, nhóm VBT cho thấy sự thích nghi về sức mạnh tối đa tốt hơn so với nhóm PBT. Hơn nữa, nhóm VBT có tổng khối lượng tập luyện ít hơn so với nhóm PBT. Điều này có nghĩa là việc theo dõi sự mệt mỏi trong khi vẫn đạt được những thích nghi tích cực đã trở nên khả thi hơn nhờ sử dụng các giao thức VBT so với PBT.

Dorrell, HF, Smith, MF, & Gee, TI (2019). So sánh phương pháp tải trọng dựa trên vận tốc và phương pháp tải trọng truyền thống dựa trên phần trăm đối với sự thích nghi về sức mạnh và công suất tối đa. Tạp chí Nghiên cứu Sức mạnh và Điều kiện Thể chất.

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN KHÁC!

Hãy xem phần hai của loạt bài đánh giá nghiên cứu về VBT của chúng tôi!

Bạn muốn tìm hiểu thêm về những kiến ​​thức cơ bản của VBT? Hãy tham khảo Từ điển VBT của Perch !

Bạn tò mò về cách các nhóm dân cư khác nhau có thể sử dụng VBT? Hãy xem loạt bài VBT dành cho các nhóm dân cư cụ thể của chúng tôi!

Đọc thêm về Perch Xem tại đây ! Và xem các video sản phẩm tại đây . Và trang web hỗ trợ của chúng tôi tại đây.

Quay lại những điều cơ bản? Hãy cùng ôn lại nguồn gốc của VBTHuấn luyện Sức mạnh !

THEO DÕI CHÚNG TÔI!

Hãy thường xuyên truy cập để cập nhật thêm nội dung, mẹo, thủ thuật và công cụ huấn luyện dựa trên tốc độ. Và đừng quên theo dõi chúng tôi trên Twitter , InstagramLinkedin cũng như thích trang của chúng tôi trên Facebook .

Bạn đã sẵn sàng để có được lợi thế cạnh tranh chưa?